10. 天 澤 履 THIÊN TRẠCH LÝ
Quẻ Thiên Trạch Lý đồ hình ||:||| còn gọi là quẻ Lý (履 lủ), là quẻ thứ 10 trong Kinh Dịch. Quẻ được kết hợp bởi Nội quái là ☱ (||: 兌 dũi) Đoài hay Đầm (澤) và Ngoại quái là ☰ (||| 乾 qiàn) Càn hay Trời (天).
Quẻ này chỉ có một hào âm nhưng các hiền triết lại không cho làm chủ quẻ.
Tại sao nhỉ? Lại còn cho là dẫm lên đuôi cọp và bị cọp cắn. Nhưng cọp cắn thì đã sao.
Nếu 6 hào trong quẻ dịch tương ứng với 6 căn thì hào số 3 ứng với cái mũi. Cái mũi dùng để đánh hơi, cái mũi ngưởi được cơ hội và cả nguy hiểm. Cái mũi là bản năng sinh tồn, là con rắn.
Nhưng bởi vì khinh cái mũi nên người ta không vượt qua được nó, làm nô lệ cho nó.
Thái là thái bình. Sở dĩ như vậy là do sự cân bằng giữa âm và dương. Ba dương gánh vác ba âm. Quẻ dịch được chia làm hai phần ba hào dưới là Nội Quái, ba hào trên là Ngoại Quái. Ngược lại với quẻ này là Thiên Địa Bĩ
12. 天 地 否 THIÊN ĐỊA BĨ
Bĩ là bĩ cực, trời đất bất tương giao. Là vì kinh dịch trọng Dương và thờ Trời, nhưng cũng có thể đúng. Khi con người ta ngoài mặt quân tử mà trong lòng tiểu nhân thì thật khó sống vậy. Người Ai Cập cũng có quan niệm về Trời Đất.